Lịch sử giáo xứ Vĩnh Hoà

0

Lời đầu tiên, ban biên tập trang tin vinhhoa.net xin gửi lời tri ân tới ông J.B Lê Đình Hoàng  là người đã dày công sưu tầm và nghiên cứu các tư liệu lịch sử từ trong giáo xứ Vĩnh Hoà, cũng như từ khu vực xứ lân cận để biên tập nên bộ tài liệu “Lịch Sử Giáo Xứ Vĩnh Hoà”. Đây là bộ tài liệu đã được công bố tới toàn thể bà con giáo xứ Vĩnh Hoà trong dịp kỷ niệm 50 ngày thành lập giáo xứ Vĩnh Hoà năm 1997.

Ban biên tập cũng xin được cảm ơn ông Phan Xuân Đức là người đã cung cấp bộ tài liệu quý giá này tới trang tin vinhhoa.net.

Nay chúng tôi xin được đăng bộ tài liệu này, hi vọng sẽ cung cấp tới tất cả anh chị em một cái nhìn xuyên quá khứ về thời kỳ sơ khai của vùng đất Vĩnh Hoà – Chùa Bi.

Trích nguyên văn:

——–o0o———

LỊCH SỬ GIÁO XỨ VĨNH HÒA

LỜI TỰA

Của Ông J.B Lê Đình Hoàng biên tập

dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Giáo xứ năm 1997

 

          “ Nhân linh ư vạn vật” Con người tinh khôn hơn vạn vật, bởi con người có tín ngưỡng và có lý trí. Lý trí giúp con người thống kê mọi hoạt động trong quá khứ và hiện tại. Đó là văn bản lịch sử. Lịch sử là một cuốn tranh mở rộng nhiều màu sắc vừa hoành tráng vừa bi thiết, khi sán lạn, khi đen tối. Lịch sử là tập hợp những kinh nghiệm quý báu, là bài học vô giá.

        Chặng đường Giáo xứ chúng ta đón nhận Tin mừng biết bao thăng trầm với muôn vàn mồ hôi, nước mắt và máu.

        Thường thì hạt giống Tin mừng dể mọc và nảy nở ở những người nghèo khó như ngày xưa Chúa loan báo Tin mừng với những trẻ mục đồng chứ không phải những người quyền uy và giàu sang.

                Ai gieo trong nước mắt sẽ gặt trong vui mừng

    Sự đạo ở quê ta trải muôn vàn đắng cay, con cháu mới có bóng hồng cuộc sống hôm nay.

    Chúng ta ôn lại lịch sử với ý thức tạ ơn Đức Mẹ Đấng bảo trì Giáo phận, cùng cảm tạ hồng ân Chúa, xin Chúa soi sáng cho chúng ta hiểu biết.

               Yêu Ánh Sáng để trở thành con cái Ánh Sáng

        Chúng ta đọc lịch sử Giáo xứ để hiểu biết tri ân các tiền liệt, những thế hệ hy sinh- Để sống huynh đệ như Chúa, ý thức sứ mệnh người Ki tô giáo-cộng tác vào Tin mừng cứu độ.

       Lịch sử là cuốn tranh đã mở, đang mở và sẽ mở, và chúng ta là những thế hệ kế thừa sẽ tạc lên đó  những nét phù điêu hoành tráng – Mùa xuân Đức tin – hướng tới trời mới đất mới nơi công lý ngự trị.

      Hỡi các bạn trẻ, chúng ta luôn nhớ ơn Đức Mẹ, thánh cả Giu se Bổn mạng Giáo xứ, các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta kế thừa sự nghiệp của các bậc tiền liệt, hướng tới Chúa Cứu Thế – Mặt trời Chân lý- Và chúng ta sẽ gắng sức đoạn tuyệt với lối sống vô luân, sống một đời sống mới theo tinh thần Phúc âm làm rạng rỡ Hội thánh mà làm Vinh Danh Chúa.

I.- VĨNH HÒA ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

A.- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

    Vĩnh hòa xưa  Đất: gọi là Cồn bi, làng: gọi là Chùa Bi (vì có chùa Bụt nơi nhà Văn hóa hiện nay), địa danh này có từ thời Hậu Lê. Nơi đây có đền thờ Thượng đẳng tối linh tôn thần  Lý Uy Minh Vương, thường gọi là đền Tam tòa. Tọa độ trên bản đồ là 19,05 độ vĩ bắc, 105,24 độ kinh đông, cách biển Đông theo đường chim bay 9 km, Cách thành phố Vinh 49 km nằm trong vùng Nghệ tĩnh chịu ảnh hưởng gió mùa tây nam ( gió Lào ) khắc nghiệt. Phía đông và đông bắc, đông nam là dòng sông Cấy bao quanh với cầu Bà bắc qua nối liền hai huyện Yên thành – Diễn châu.( Dòng sông này trước đây có nước thủy triều lên xuống vì vậy các giống cây như sú vẹt, bần, đước mọc nhiều nên các đàn chim di trú như cò vạc thường về đây cư trú rất nhiều. Dưới sông thì cá tôm, cua cáy, còng đầy đàn. Dòng sông Cấy này hợp với sông Bùng rồi đổ ra biển Đông).Phía tây nam là dòng sông Con uốn khúc quanh co, bên kia sông Con là  Bỉn sơn thơ mộng với hoa Dẻ, hoa Sói lừng ngát hương thơm. Phía tây là dòng sông Sọt( sông Đình), sông Đình là hạ lưu của sông Dền chảy từ Kẻ Dền qua làng Phan, làng Đông sau đó đổ vào sông Con và hợp lưu vào sông Cấy. Các dòng sông này đã làm nên cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập ngược xuôi như bến Vạn mắm(bên kia Bỉn sơn, nơi ông cha đến cư trú đầu tiên), bến Tam tòa, trường thi Cồn Chõ (đối diện bến Tam tòa).

      Như vậy chúng ta thấy Vĩnh hòa chùa Bi xưa quả là một quần thể văn hóa có từ ngàn xưa để lại: “Chùa Bi là rốn nước của Đông thành, lắm cây bần và cây dừa nước mọc thành lùm, ở đó có đền Tam Tòa và chùa Bụt, trông lên Bỉn sơn phong cảnh hữu tình, lại sông nước bao quanh có thể làm trường thi khảo hạch”( theo Công Trung xã chí của Hoàng Đằng và Đông thành huyện chí của Phan Thúc Trực). Quả thật Ông cha ta đã có con mắt tinh tường trong việc chọn Đất cho con cháu, vậy bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu quá trình mở đất xây dựng xóm thôn, xây dựng sự đạo, mở mang Nước Chúa của Tổ Tiên, cha ông chúng ta.

II.-QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.-Bối cảnh Lịch sử:

         Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, Nguyễn Ánh với sự giúp đỡ của Pháp đã đánh bại nhà Tây sơn thống nhất đất nước, năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi vua với niên hiệu là Gia long. Sự đạo ở nước ta phát triển nhanh và mạnh một phần nhờ sự ủng hộ của vua Gia long, thời đó ở vùng Yên thành Diễn châu bây giờ đã có các xứ đạo như Đông thành ( tức Phi lộc),Đông ca ( Phú Linh), Kẻ trầu (tức Lưu Mỹ). Đến đời các triều vua kế tiềp là Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức do mâu thuẫn với Pháp và nghi ngờ người Công giáo là tay trong của Pháp, các nho sỹ thì cho rằng Công giáo là “Tả đạo”(trái với đạo Tổ tiên ông bà)  nên đã ra các Chỉ dụ cấm đạo ngày càng gắt gao, mặc dầu vậy sự đạo vẫn phát triển trong máu và nước mắt và ngày 27/3/1846 Giáo phận Nam Đàng ngoài ( tức Giáo phận Vinh) được thành lập. Do Pháp lần lượt đánh chiếm Nam kỳ, Bắc kỳ rồi Trung kỳ mà người công giáo Việt nam bị bách hại ngày càng nặng nề hơn đặc biệt là trong thời Văn thân khi vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương tháng 10 năm 1885. Sử sách còn ghi lại: “Giữa năm 1861có lệnh Phân tháp của vua Tự Đức gồm 5 điểm sau : 1.-Tất cả mọi tín hữu Công giáo nam nữ, giàu nghèo, già trẻ đều phải phân tán trong các làng lương.  2.-Mỗi làng phải chịu trách nhiệm quản thúc người Công giáo theo tỷ lệ một người Công giáo giao cho 5 người lương. 3.-Tất cả các làng Công giáo phải triệt hạ, ruộng vườn nhà cửa được chia cho các làng lân cận và các làng này phải chịu trách nhiệm đóng thuế. 4.-Đàn ông đàn bà phải phân tán, chồng trong tỉnh này thì vợ trong tỉnh kia, không cho đoàn tụ, con cái được giao cho làng lương nuôi. 5.-Trước khi đem đi Phân tháp, tất cả đều phải thích vào mặt bên má trái hai chử Tả đạo, và bên má mặt tên tổng và huyện nơi họ được chỉ định cư trú, để khỏi trốn thoát.”(Lịch sử Giáo Phận Vinh của Lm Trương Bá Cần tr 73). Sự bách hại của Văn thân diễn ra ba lần chính : Lần thứ nhất vào tháng 4 đến tháng 5 năm 1868, lần thứ hai  từ tháng 2 năm 1874 tới tháng 12 năm đó, lần thứ ba từ tháng 10/1885 đến tháng 10/1886. Trong bối cảnh lịch sử đó những người công giáo Vĩnh hòa đầu tiên, là những người chạy loạn từ trong ra hoặc ngoài vào, lúc đầu cư trú ở Vạn mắm trên dòng sông Cấy thời đó còn rất um tùm và khuất nẽo nhằm tránh sự truy sát của quan quân  và cũng tiện đi thuyền về Phi lộc để sinh hoạt tôn giáo.

2.-Những người đến cư trú ở Vạn mắm và xin đất Cồn bi

                Theo gia phả của  dòng Họ Lê Đình và Họ Nguyễn Văn ( Họ Nguyễn của ông Đức hiện ở miền nam là trưởng tộc, ở Vĩnh hòa nay là ông Nguyễn Thành ) là hai họ tộc có mặt đầu tiên tại Vạn mắm thì cho tới nay con cháu mới đến đời thứ 7. Theo quy luật chung của cuộc sống thì mỗi đời người cách nhau khỏang 20-22 năm. Như vậy tính từ khi các bậc tổ tiên của hai họ đến ở Vạn mắm tới nay có khoảng thời gian chừng 140-150 năm. Vậy  vào khoảng năm1860-1870 các vị tiền nhân là: Cố Lê Đình Hải cùng các con Vịnh, Cửu, Chương, Lương, Ngọc, Minh, Châu cùng hai người cháu của mình là Cơng, Kính và ông Tổ họ Nguyễn là cố Mù (xin lỗi vì cố bị mù mà không rõ tên) cùng các con của mình là Duyên, Đuyền đến cư trú tại Vạn mắm ( phía nam chân Bỉn sơn ).Đây là thời kỳ triều đình Huế tàn sát người có đạo một cách  dữ dội và khốc liệt nhưng lại đỗ lỗi hoàn toàn cho Văn thân. Thực tế thì Văn thân đàn áp đạo cách khốc liệt nhất là vào năm 1885 đến năm 1866 khi vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương và Văn thân với khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả”. Sử sách không ghi lại các vị tiền nhân của chúng ta có bị sát hại trong các cuộc tàn sát đó hay không nhưng chắc chắn có  nhiều người bị sát hại, nhất là đàn bà và con trẻ vì không chạy kịp mỗi khi Văn thân ruồng bố.(Tương truyền bà vợ cố Hải bị chết tại Bảo nham khi bà trốn trong hang đá thì bị Văn thân un khói ngày 12/11/1885, cố Hải thì bị chết tại Xã đoài vì đánh trả Văn thân khi chúng tấn công Xã đoài).

Tháng 12 năm 1868 dưới áp lực của Pháp triều đình Huế buộc phải bồi thường những thiệt hại do họ và Văn thân gây ra cho những người Công giáo (Lịch sử Giáo phận Vinh của Lm Trương Bá Cần tr 88). Các bậc tiền nhân của chúng ta đã thưa với quan lại đương thời xin được dùng mảnh đất Cồn bi làm chổ định cư lâu dài để làm ăn sinh cơ lập nghiệp. Họ vui vẻ chấp nhận lời đề nghị đó bởi mảnh đất Cồn Bi lúc đó còn là bãi cỏ hoang dại của đền chùa và lương dân không bao giờ ở hoặc canh tác trên những mảnh đất như vậy, bởi họ kiêng kỵ sợ xúc phạm đến thần linh. Kể từ đó ông cha ta chính thức có đất để làm ăn và cư trú, tuy nhiên chưa phải là đã qua cơn bách hại. Các bậc tiền nhân đã chiêu thêm dân bởi đất rộng mà người quá ít không đủ lực để khai hoang cũng như phòng chống giặc dã. Bởi vậy các bậc tiền nhân của dòng họ Bùi ở Văn hiến Diễn đồng, họ Nguyễn ở Thái xá (Cồn sắt, Diễn thái), họ Lê ở Cửa lò cùng gia nhập vào cộng đồng. Số này bao gồm các vị : Cố Phơng ( cố nội anh Vũ), Cố Huyền (cố nội ông Khiêm), Cố Cởm (cố nội ông Thăng)

3.- Thời kỳ phát triển và xây nhà thờ họ  

Sau 1885 phong trào Văn thân hoàn toàn bị dập tắt, triều đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp thì sự đạo được tương đối tự do phát triển. Các vị tiền nhân của Vĩnh hòa chí thú làm ăn, với bản tính sáng tạo, siêng năng cần mẫn, đất đai màu mỡ, vị trí địa lý thuận lợi giao thông thủy bộ thuận tiện và nhất là nhờ ơn Chúa việc làm ăn gặp nhiều thuận lợi, cố Bá Lương trở nên một người giàu có trong hàng Tổng, Huyện. Thời này chùa Bi mới chỉ là một Giáp của làng Đông với chừng hơn mười hộ: Cố Bá Lương, Cố Ngọc, Cố Minh, Cố Châu,Cố Khoát (tên tự đặt để chỉ cố Mù), Cố Duyên, Cố Đuyền, Cố Phơng, Cố Huyền(ông tổ họ Bùi), Cố Cơng, Cố Kính,Cố Cởm.  Khoảng năm 1902 Cố Bá Lương khởi công xây nhà nguyện đến khỏang năm 1906 thì hoàn thành ( Lịch sử xã Hợp thành trang16). Kể từ đây chính thức có tên họ đạo Cồn Bi và thuộc quyền coi sóc của cố Nhàn quản xứ Đông tháp. Nhà thờ thời đó làm bằng gỗ lim với 3 vượt 6 gian và 1 chái (nhà mặc áo), dài khoảng 17m rộng 7,4 m.Vị trí là phía nam sân nhà thờ hiện tại, mặt tiền hướng nam, khu vực tượng dài hiện giờ là sân thánh đường ngày đó. Trần nhà thờ làm bằng gỗ, được trang trí bằng những bức họa cực kỳ lộng lẫy, đặc biệt bàn thờ chính được thiếp vàng  đẹp nhất hạt Đông tháp thời bấy giờ và còn mãi cho tới ngày nay. Kể từ đây dân các nơi tìm về Cồn bi theo đạo cũng như làm ăn sinh cơ lập nghiệp ngày càng nhiều như họ Lê(cố Túc ), họ Phan(cố Soa),họ Trần(cố Tứ), họ Nguyễn(cố Đường), họ Hoàng(cố Ký)…..

 Tới năm 1935 họ đạo Cồn bi lại thuộc xứ Phi lộc (theo sổ rữa tội của xứ Phi lộc) thuộc quyền coi sóc của cha Hưng rồi cha Tuấn. Lúc này nhờ sự nhiệt tình của Bà Cửu Năm(bà nội ông Khang) mà một số đông bà con lương dân ở Đông an cũng tòng giáo và thành lập nên họ Đông an vào năm 1932.Trước đó vào năm 1925 nhờ sự truyền bá của thầy Kẻ giảng Chu Văn Giáo(sau là cha Giáo quản xứ Phúc lộc, nghĩa phụ của cha Phê rô Nguyễn Văn Đức) mà họ đạo Xuân tiêu được thành lập. Do sự đạo phát triển và đã có 3 giáo họ trên địa bàn kế cận nhau nên nhu cầu thành lập giáo xứ trở nên cấp thiết.

 

—–

 

(Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật)

 

Share.

About Author

Leave A Reply